Điều trị ung thư Tinh hoàn

Những năm gần đây, số ca ung thư tinh hoàn ở Việt Nam có tốc độ tăng lên rõ rệt. Tuy nhiên, mọi người cũng không nên quá hoang mang bởi căn bệnh này đang được hưởng những thành quả to lớn của điều trị sinh hóa, làm thay đổi bản chất về tiên lượng bệnh, với tỷ lệ chữa khỏi tới hơn 95%.

Mặc dù không phải là loại phổ biến nhất trong các ung thư tiết niệu nhưng ung thư tinh hoàn thường gặp sau tuổi dậy thì đã trở thành loại ung thư hay gặp nhất ở người trẻ từ 20-35 tuổi. Tỷ lệ thường gặp trung bình là 6 ca/100.000 người dân.

Những yếu tố thuận lợi cho ung thư tinh hoàn là tinh hoàn chưa xuống bìu, loạn sản tế bào sinh dục bao gồm cả teo tinh hoàn và các rối loạn vô sinh. Ngoài ra còn một số yếu tố môi trường, đặc biệt là nội tiết tố, nguồn gốc do mất thăng bằng tuyến nội tiết trong thời kỳ bào thai cũng có thể trở thành điều kiện gây bệnh thuận lợi.


Biện pháp phát hiện bệnh?

Ung thư tinh hoàn có thể chẩn đoán dễ dàng qua việc tự khám bìu thấy một khối u tinh hoàn. Trước đây, sự khám nghiệm phối hợp giữa nhà trường với bệnh viện đã cho phép phát hiện ung thư tinh hoàn ở thanh niên. Với những trường hợp khó chẩn đoán, siêu âm phối hợp với siêu âm Doppler màu giúp xác định chẩn đoán.

Các xét nghiệm máu đặc hiệu với khối u mầm như Alpha-phoeto-proteine và nội tiết tố Gonadotrophique chorionique (HCG). Các xét nghiệm này khẳng định chẩn đoán và nếu nồng độ cao cho phép tiên lượng bệnh và là yếu tố để theo dõi hiệu quả điều trị. Mặc dù ít đặc hiệu hơn, Lactate-dehydrogenase (LDH) cũng có giá trị tiên lượng bệnh.

Các giai đoạn phát triển của bệnh

Người ta phân chia ung thư tinh hoàn ra các giai đoạn như sau: Giai đoạn T tương ứng với sự lan tỏa tại chỗ của khối u với 4 mức độ. Giai đoạn N tương ứng với việc lan tỏa đến các hạch sau phúc mạc có 3 mức độ. Giai đoạn M tương ứng với sự di căn tới các cơ quan khác và sau này bổ sung thêm giai đoạn S tương ứng với các đánh dấu (Marqueurs) đặc hiệu.

Điều trị ung thư Tinh hoàn?

Sau khi chẩn đoán ung thư tinh hoàn có thể chỉ định phẫu thuật cắt tinh hoàn. Sau khi cắt tinh hoàn, nên đặt tinh hoàn giả cho bệnh nhân với mục đích ổn định tâm lý cho người bệnh. Ngoài ra, khuyến cáo người phẫu thuật cắt bỏ tinh hoàn nên thu giữ tinh trùng vào ngân hàng tinh trùng trước khi phẫu thuật, vì lý do một số thuốc trong điều trị ung thư tinh hoàn có thể gây mất tinh trùng ảnh hưởng tới việc có con sau này. Người bệnh cũng không nên lo lắng nhiều cho cuộc sống phòng the sau đó vì phẫu thuật này không gây rối loạn tình dục.

Các nghiên cứu giải phẫu bệnh và đánh giá mức độ khu trú hay phát tán của khối u (CT bụng ngực) sẽ giúp hướng tới những điều trị bổ sung cần thiết. Nếu là khối u tinh hoàn khu trú, tùy theo dạng tế bào có thể đặt ra việc chiếu tia xạ ổ bụng, dùng hóa chất hoặc nạo vét hạch sau phúc mạc, hay thậm chí chỉ cần theo dõi thông thường.

Dạng tiến triển với sự khuếch tán của tế bào ung thư vào hạch ổ bụng hay thậm chí vào cơ quan khác cần điều trị hóa chất nhiều đợt phù hợp với mức độ nặng nề của sự khuếch tán cũng như tỷ lệ marqueurs tumoraux.

Sau điều trị hóa chất, đôi khi cần phẫu thuật vét hạch còn sót lại hoặc di căn.

Với những trường hợp hiếm gặp hơn là ung thư tinh hoàn hai bên xảy ra đồng thời, thứ phát hay ung thư trên một tinh hoàn độc nhất (chỉ có duy nhất một tinh hoàn) có thể cắt tinh hoàn bán phần (với điều kiện khối u nhỏ và được phát hiện sớm).

Đa số bệnh nhân được điều trị khỏi với các phương pháp điều trị nói trên. Sau phẫu thuật cần theo dõi đều đặn chỉ số marqueurs tumoraux và CT.

Các bác sĩ cũng khuyến khích tất cả bệnh nhân từng bị ung thư tinh hoàn đã được điều trị nên tự khám bìu để phát hiện sớm bệnh có thể tái phát.